Lưu danh muôn thuở
Kể từ nhà Lý khai khoa năm 1075 đến khoa thi cuối cùng dưới thời nhà Nguyễn năm 1919, trải qua gần 700 năm thăng trầm, thịnh suy cùng dòng chảy lịch sử của dân tộc, các triều đại phong kiến nước ta đã tổ chức được 188 đại khoa, lấy đỗ gần 3.000 tiến sĩ. Điều này cho thấy, vì đại sự quốc gia, vì tương lai dân tộc, các vương triều luôn quan tâm, chú trọng tổ chức đào tạo bồi dưỡng, tuyển chọn nhân tài để phụng sự đất nước.
Qua các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn, nền giáo dục Nho học ngày càng lan tỏa đến tận các làng xã. Từ chốn lều tranh, biết bao nhiêu sỹ tử của đất nước đã cần cù học tập để có ngày “cá chép vượt vũ môn”, đạt được thứ hạng cao trong các kỳ thi trung khoa (thi Hương) đến đại khoa (thi Hội, thi Đình) rồi được triều đình bổ nhậm các chức vụ trọng yếu trong kinh, ngoài trấn, đem tài năng, trí tuệ, sở học của mình ra phò vua, giúp nước.
Biết bao thế hệ hiền tài đã hết lòng chăm lo các công cuộc ích nước lợi dân. Có thể tìm thấy ở đây tên tuổi của nhiều danh nhân như: nhà sử học Ngô Sĩ Liên, tiến sĩ năm 1442 đã soạn bộ sách “Đại Việt sử ký toàn thư”; nhà bác học Lê Quý Đôn, tác giả của “Đại Việt thông sử”, “Kiến văn tiểu lục”, “Vân đài loại ngữ”…; nhà chính trị, ngoại giao lỗi lạc Ngô Thì Nhậm đỗ tiến sĩ khoa 1775, đã giúp Vua Quang Trung chiến thắng quân Thanh trong trận Ngọc Hồi - Đống Đa lịch sử…
Trên các văn bia đều cho thấy đường hướng khuyến khích, khẳng định vai trò trọng yếu của nhân tài, khoa cử đối với quốc gia: “Khí vận quốc gia quan hệ bởi nhân tài, nhân tài cao thấp cốt do khoa mục” (Mậu Tuất, 1478); “Trời mở nền thái bình thịnh trị muôn năm cho nước nhà, tất sinh hiền tài để giúp cho sự nghiệp ấy. Đó là vì sự hưng thịnh của trị đạo có gốc cỗi ở chỗ dùng được người hiền, có nhiều hiền tài hay không là do ở sự giáo dưỡng” (Đinh Mùi, 1487); “Mở khoa thi tiến sĩ là quy chế đã định sẵn để kén chọn kẻ sĩ, khắc đá đề tên cốt để rộng rãi khuyến khích nhân tài” (Nhâm Tuất, 1502); “Trời đất sinh nuôi muôn vật tất phải nhờ bốn mùa để thành công. Đế vương muốn giữ muôn phương tất phải nhờ quần hiền giúp trị” (Giáp Dần, 1554).
Bởi thế, việc dựng bia đề danh không chỉ là một hình thức tuyên dương, vinh danh mà còn là một sự động viên, khuyết khích học hành thi cử để tìm lấy bậc thang thăng tiến trong xã hội: “nay thánh thượng anh minh lại nhận thấy rằng việc lớn tốt đẹp tuy đã vẻ vang một thời, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ để lưu truyền lâu dài cho hậu thế. Vì thế lại cho khắc đá đề tên dựng ở cửa nhà thái học để cho kẻ sĩ chiêm ngưỡng, hâm mộ phấn chấn, rèn luyện danh tiết, hăng hái tiến lên giúp rập hoàng gia” (bia 1442).
“Tấm gương soi” để tự răn mình
Nhưng không dừng lại ở những ý nghĩa trên, những tân khoa sau ngày rạng rỡ “vinh quy bái tổ”, bảng vàng đề tên, bia đá lưu danh cũng hiểu rằng “trăm năm bia đá, ngàn năm bia miệng”, họ hiểu rằng, một khi tấm bia đã dựng lên, nhất cử nhất động trong hành vi, đạo đức của họ từ nay sẽ là đối tượng “nhĩ mục quan chiêm” (tai mắt nhòm ngó), “quan trên trông xuống, người ta trông vào” của bàn dân thiên hạ.
Bởi thế cái gương “nhất nhật tam tỉnh ngô thân” (mỗi ngày ta tự xét mình ba lần), “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”, “tiết muộn đường trường” ắt phải luôn là lời nhắc nhở, thận trọng để khỏi hổ thẹn. Dù là ở chốn công đường xa xôi, hẻo lánh hay chỗ tư thất chốn kinh kỳ, phải làm sao cho xứng danh kẻ được hưởng ơn vua, lộc nước, xứng lòng kỳ vọng của mọi người. Bởi tiếng lành đồn một, tiếng dữ đồn trăm, để một chút ô danh là liên lụy đến danh giá tổ tiên, nhục lây môn đồ cửa Khổng, tên tuổi như vết nhơ để lại trên tấm đá “khoa mục thẹn lây, đá xanh lấm vết”.
![]() |
“Kẻ sĩ may mắn được ghi tên vào tấm đá này phải nên làm cho danh đúng với thực, sửa nết giữ mình […] Những người ở chức tháp tùng hầu vua phải lo dâng tiến mưu hay; người nắm giữ kỷ cương phải lo làm cho chính sự trong sạch, có căn bản; những người cai trị địa phương phải lo làm sao rạng tỏ đức bề trên mà thấu tình người dưới; những người giữ quyền chăm dân phải lo sao cho nơi mình làm quan dân được no đủ mà gốc nước được vững bền” (bia 1463);... ngày thường thì can ngay nói thẳng, tôn vua giúp dân, khi gặp việc thì vì nước quên nhà, gặp gian nguy dám nhận mệnh cứu chúa, khiến người ta chỉ vào tên mà nói: người này trung, người kia thẳng, người này dám tiến cử người tốt, bài xích kẻ gian tà, giúp ích cho nước” (bia 1478).
“Kẻ sĩ được khắc tên vào tấm đá này, thật may mắn biết bao! Cho nên phải đem lòng trung nghĩa tự hẹn với mình, phải làm sao danh và thực hợp nhau, làm những việc hợp sở học để làm nên sự nghiệp to lớn quang minh, khiến thiên hạ đời sau phải nhón chân lên mà nhắc nhở thanh danh, mến mộ khí tiết. Ngõ hầu trên không phụ ơn triều đình dưỡng dục, dưới không phụ hoài bão thường ngày, thì tấm đá khắc ra sẽ đời đời không mục vậy” (bia 1487).
“Hãy làm mây lành sao tỏ nêu điềm tốt cho đời, làm ngọc sáng vàng ròng để làm của báu cho nước, làm giáo, làm gươm để dẹp trừ tiếm loạn, làm bậc tiên giác như cây kỷ, cây tử để vững chắc cột rường. Hoặc làm lúa, làm gạo, làm vải lụa để giúp dân nghèo, hoặc làm sâm linh kỳ truật để bồi bổ khí mạch quốc gia, khiến cho cuộc trị bình của nước nhà bước lên chốn vẻ vang tươi sáng, đặt thiên hạ vào thế yên như núi Thái Sơn, ngõ hầu trên không phụ thánh đức biểu dương, dưới không phụ với sở học ngày thường” (bia 1514).
Hoặc trái lại, chỉ là những kẻ “ngoài ngọc, trong đá”, “bề ngoài như chim phượng mà tiếng kêu như cú diều, dua nịnh như phường dựa cột, hèn nhát như lũ bó tay, thiên hạ đời sau sẽ chê cười” (bia 1511); “ngoài vuông nhưng trong tròn, trước ngay thẳng mà sau hư hỏng, cái người ta được thấy chẳng giống cái người ta được nghe, việc làm trái với sở học thì chỉ làm lụy cho khoa mục, làm tì vết cho tấm đá này” (bia 1529); “Thảng hoặc có người bề ngoài có vẻ văn chương mà bên trong đức hạnh thiếu phần tu dưỡng, khiến cho cái mà người ta đọc được trên bia không giống như dư luận mà họ nghe biết, việc làm trái với sở học, làm hủy hoại hạnh kiểm, điếm lụy danh giáo thì vết nhơ có tấm đá này” (bia 1487).
“Nếu không được như vậy thì hiền hay không hiền, trung hay tà, phải trái nên hư phân biệt rõ ràng, ngọc có vết không thể che đậy. Người đời sẽ chỉ vào tên mà bàn tán, công luận thật nghiêm buốt, há chẳng đáng sợ lắm sao?” (bia 1514); “Thảng hoặc có kẻ mượn khoa danh để làm kế ấm no, mượn đường ấy để được giới sĩ hoạn kính trọng, người đời sau tất sẽ nhìn vào họ tên mà nói: kẻ kia hạng tiểu nhân gian tà, làm xấu lây cho khoa mục” (bia 1577).
“Nếu không được như thế, tức là chỉ ngồi không, coi việc giữ tước lộc chức vị là cao, coi xảo trá giả dối là trí, chạy theo dục vọng mà không theo đạo đức, bỏ thực chất mà theo hư danh, như thế thì hình tích đã chẳng còn, mà công luận không sao cho thoát, há chẳng đáng khinh bỉ lắm thay! Đủ biết đá này dựng lên, ý khích lệ thật là sâu sắc, ý khuyên răn cũng thật rất đến chốn, đúng bổ ích cho thế đạo, há chỉ đặt dựng suông đâu” (bia 1659).
“Việc dựng tấm đá này có lợi ích rất nhiều: kẻ ác coi đó làm răn, người thiện lấy đó mà gắng. Biết rõ quá khứ, rộng nhìn tương lai. Vừa là để giúp rèn giũa danh tiết kẻ sĩ, vừa là để vững mạnh mệnh mạch nước nhà” (bia 1442); “đời sau sẽ có người chỉ vào tên mà bàn tán rằng: người nay trung chính, kẻ kia gian tà; người này thanh liêm giữ mình, người kia là hạng tham quan hư hỏng” (bia 1475)…
Từ đó cho thấy, việc bia đá đề danh đâu chỉ để xiển dương việc học, biểu dương người tài mà cũng từ đây, những kẻ đỗ đạt bước vào chặng đường mới, lời văn bia trên bia đá “vững như bàn thạch” là tấm gương soi, là lời nhắc những người mới được vinh danh kia không được phép ngủ quên trên thành công, làm quan không được phép vị kỷ chỉ nghĩ đến lợi lộc của bản thân và gia đình. Trái lại phải không ngừng rèn luyện, không ngừng “tu thân, tề gia”, lấy lợi ích của Nhân dân, của đất nước lên trên hết, trước hết mới có thể không thẹn với những dòng chữ tạc tên mình trên bia đá.
Sử đá lưu danh
Ngày 6/2/2026, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức khai mạc Trưng bày “Sử đá lưu danh” tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Đây là hoạt động thiết thực chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, mừng xuân Bính Ngọ 2026 và hướng tới kỉ niệm 950 thành lập Quốc Tử Giám - trường Quốc học đầu tiên.
Nội dung trưng bày được triển khai theo 4 chủ đề chính, khái quát diện mạo nền giáo dục khoa cử Nho học; chủ trương tuyển chọn, đãi ngộ và trọng dụng người đỗ đạt; đồng thời khắc họa chân dung một số danh nhân tiêu biểu có đóng góp quan trọng cho giáo dục và nhiều lĩnh vực của đất nước.
Trước yêu cầu đổi mới sâu sắc, toàn diện về công tác xây dựng và thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66. Năm 2025 cả hệ thống chính trị của tỉnh Quảng Ninh đã vào cuộc quyết liệt, được thể hiện bằng việc xây dựng chương trình hành động chi tiết, xác định trách nhiệm người đứng đầu và tập trung nguồn lực rà soát, xử lý các quy định chồng chéo, Quảng Ninh đã cơ bản hoàn thành mục tiêu tháo gỡ các "điểm nghẽn", tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thúc đẩy mạnh mẽ sự sáng tạo và giải phóng mọi tiềm năng phát triển.
PLM - Tôn giáo ở Việt Nam từ lâu đã gắn bó sâu sắc với đời sống tinh thần của người dân, trở thành một phần quan trọng trong bản sắc văn hóa dân tộc. Với tinh thần khoan dung, hòa hợp, các tôn giáo không chỉ đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng mà còn góp phần định hướng đạo đức, nuôi dưỡng lối sống nhân ái, hướng thiện và gắn kết cộng đồng. Trong đó, Phật giáo giữ vai trò đặc biệt, thấm sâu vào nếp nghĩ, sinh hoạt và phong tục của người Việt qua nhiều thế hệ.
(PLM) - Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 đang đến gần. Với quyết tâm không để ai bị bỏ lại phía sau, xã Cán Tỷ đang đẩy mạnh các hoạt động an sinh xã hội. Nhằm chăm lo đời sống cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, giúp người dân đón Tết ấm áp, đủ đầy.
(PLM) - Những ngày cận Tết Nguyên đán, không khí tại Trung tâm Y tế khu vực Văn Yên, tỉnh Lào Cai trở nên khẩn trương hơn bao giờ hết khi số lượng bệnh nhân đến khám và cấp cứu tăng mạnh. Tại Khoa Cấp cứu – Hồi sức tích cực và Chống độc, các y bác sĩ liên tục tiếp nhận những ca bệnh nặng do tai nạn giao thông, ngộ độc rượu, tai biến mạch máu não… Nhiều trường hợp nhập viện trong tình trạng nguy kịch, đòi hỏi phải xử trí khẩn cấp để giành giật sự sống từng phút, từng giây.
Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 là thời điểm để thu hút khách du lịch đến tham quan, mua sắm và trải nghiệm các hoạt động văn hóa truyền thống. Vì vậy, tỉnh Quảng Ninh đã tăng cường các hoạt động vui chơi, giải trí sôi động, hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế đến tham quan và trải nghiệm.
(PLM) - Móng Cái - nơi địa đầu Đông Bắc Tổ quốc, có trục đường giao thông quan trọng kết nối giao thương quan trọng giữa Việt Nam và nước bạn. Tại đây, mỗi cung đường đều mang hơi thở của nền kinh tế biên mậu. Nhưng cũng chính sự sôi động ấy đặt lên vai những người chiến sĩ Cảnh sát giao thông một trọng trách nặng nề: Giữ cho mạch giao thông luôn thông suốt và ngăn chặn những hiểm họa từ hàng lậu, hàng giả thẩm lậu vào nội địa.
(PLM) - Sau những ngày đối mặt với sự tàn phá của bão lũ, những vùng đất chịu đau thương tại Gia Lai đang thực sự 'thay da đổi thịt'. Niềm vui trong những ngày đầu năm dường như được nhân đôi khi nhiều gia đình không chỉ được đón năm mới trong sự an lành, mà còn được ở trong những ngôi nhà mới thắm đượm tình quân dân. Mỗi mái ấm được bàn giao không chỉ là nơi để che mưa, che nắng, mà còn là khởi đầu của những hy vọng mới.
Thương hiệu Ăn Cùng Bà Tuyết dù mới xuất hiện trên thị trường không lâu khoảng 4 năm, nhưng đã và đang từng bước khẳng định vị thế của mình bằng việc chú trọng chất lượng sản phẩm và các tiêu chuẩn vệ sinh trong quá trình sản xuất.
Với lợi thế là Di sản thiên nhiên thế giới, Vịnh Hạ Long luôn là điểm đến thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước mỗi dịp Tết đến, Xuân về. Để đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, các cơ quan chức năng và đơn vị quản lý Vịnh Hạ Long đã chủ động triển khai nhiều giải pháp, sẵn sàng đón và phục vụ du khách an toàn, chu đáo.
PLM - Chiều 9/2/2026 vừa qua, Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động của Hội đồng Trường; công bố Quyết định bổ nhiệm Phó Hiệu trưởng và Quyết định thành lập Hội đồng Khoa học và Đào tạo. Hội nghị khẳng định vai trò quan trọng của mô hình hội đồng trường trong đổi mới quản trị, thúc đẩy tự chủ đại học, đồng thời định hướng phát triển nhà trường trong giai đoạn mới