Ðó là chiến thắng thể hiện tầm cao và trí tuệ của con người Việt Nam trước một đội quân hùng hậu, được trang bị các loại vũ khí tối tân khi đó.
Huyền thoại về “quả tên lửa” thứ ba lao vào B-52 Mỹ
Ngày 28/12/1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn gửi Công hàm tới Chính phủ nước ta đề nghị nối lại đàm phán Hội nghị Paris. Chính phủ ta gửi Công hàm đồng ý hai bên gặp lại vào ngày 8/1/1973 với điều kiện Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc, trở lại nguyên trạng như trước ngày 18/12/1972.
Tuy vậy, ngày 28/12/1972, Mỹ vẫn huy động lực lượng không quân đánh phá ác liệt vào Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn và các mục tiêu trọng yếu ở miền Bắc. Ban ngày, Không quân Mỹ sử dụng hơn 100 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá các trận địa tên lửa, cơ sở kho tàng, cầu cảng, khu công nghiệp ở Hà Nội và các địa phương miền Bắc.
Đêm 28/12, Mỹ huy động 60 lần chiếc máy bay B-52, 50 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống cùng 6 lần chiếc máy bay F-111 đánh phá các mục tiêu ở Hà Nội, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Việt Trì, các trận địa tên lửa. Máy bay của Hải quân Mỹ tiếp tục đánh phá Hải Phòng. Trước đó, đêm ngày 27/12/1972, phi công Phạm Tuân đã lập chiến công đầu tiên khi bắn rơi một máy bay B-52 cho không quân. Thành tích này đã cổ vũ niềm tin rất nhiều cho những phi công MIG-21 trong công cuộc hạ gục “siêu pháo đài bay B-52 bất khả xâm phạm” của đế quốc Mỹ.
Tiếp đó, Thượng úy, phi công Vũ Xuân Thiều, Trung đội trưởng Trung đội bay thuộc Đại đội 9, Trung đoàn 927, Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không -Không quân đã làm nên huyền thoại. Cụ thể, đúng 21 giờ 45 phút ngày 28/12, phi công Vũ Xuân Thiều được lệnh cất cánh, gần đến tốp máy bay địch, anh được chỉ thị cho máy bay quay vòng phải và lách qua lực lượng tiêm kích của địch để tiếp cận B-52. Chiếc MIG bay xuyên vào giữa đội hình máy bay địch, Sở Chỉ huy Trung đoàn 927 nhắc Thiều bình tĩnh tiếp tục tiếp cận B-52, vì địch đông mà chỉ có một chiếc máy bay ta, chúng sẽ khó phát hiện. Mà nếu có cũng không dám bắn vì sợ bắn vào nhau.
Ở độ cao 11 nghìn mét, Vũ Xuân Thiều báo cáo về Sở Chỉ huy: “Tôi đã phát hiện được mục tiêu. Xin phép công kích”. Cả Sở Chỉ huy hồi hộp hướng về phía loa, đợi tiếng Thiều hô “cháy rồi”. Với bản lĩnh kiên cường, quả cảm, kỹ thuật bay giỏi, ai cũng tin tưởng Vũ Xuân Thiều sẽ lập công xuất sắc. Nhưng một phút, hai phút vẫn không nghe thấy tiếng Thiều, chỉ có tiếng sĩ quan dẫn đường liên tục gọi “có nghe thấy không”, tất cả chỉ rơi vào thinh không.
Trên màn hình ra-đa, hai vệt sáng của MIG và B-52 chặp lại với nhau phát ra một chấm sáng to lạ thường, rồi tóe ra thành những chấm nhỏ rơi xuống. Vũ Xuân Thiều đã mãi mãi hòa cùng bầu trời đêm ấy để ngăn chặn B-52 trước khi chúng kịp vào ném bom Hà Nội.
Trong lúc bắn phá, phóng hai tên lửa bắn trúng mục tiêu thì máy bay của Thiều cũng đã lao vào chiếc B-52 và hy sinh anh dũng. Đây là chiếc máy bay B-52 thứ hai bị bắn hạ bởi Không quân nhân dân Việt Nam đồng thời cũng là chiếc “pháo đài bay” cuối cùng của Mỹ bị bắn rơi trong trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972.
Về sau này, một số chuyên viên Cục Hàng không dân dụng Việt Nam sang Mỹ công tác đã đọc được cuốn sách “Không chiến trên bầu trời Bắc Việt” trưng bày tại Viện Bảo tàng Không quân Mỹ tại Washington. Cuốn sách nói nhiều đến chiến công của các phi công Việt Nam, trong đó có ba phi công đã bắn rơi B-52 Mỹ: Vũ Đình Rạng, Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều. Đặc biệt cuốn sách viết về tinh thần cảm tử của phi công Vũ Xuân Thiều, do một phi công Mỹ lái máy bay làm nhiệm vụ vệ tinh cho chiếc B-52 Mỹ bị máy bay của Thiều tấn công đêm hôm đó kể lại.
Lời kể được tác giả Istvan Toperczer ghi: “... Chiếc máy bay MIG-21 của không quân Bắc Việt lao vút lên bầu trời. Khi phát hiện ra mục tiêu B-52 và các máy bay tiêm kích của Mỹ bảo vệ, chiếc MIG-21 đã mưu trí vượt qua hàng rào bảo vệ và tiếp cận mục tiêu. Quả tên lửa thứ nhất phóng đi, rồi quả thứ hai, chiếc B-52 bị thương nhẹ chỉ tròng trành trong vài giây rồi vẫn gắng gượng lao đến vị trí cắt bom. Khi khói vàng vừa nhả ra thì chớp nhoáng chiếc MIG-21 lao như một mũi tên vào chiếc B-52 Mỹ. Cả hai khối sắt thép cùng nổ tung trên bầu trời...”.
Với sự quả cảm quyết liệt diệt địch, anh được tặng Huân chương Quân công hạng Ba, sau đó được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân. “Nửa thế kỷ đã trôi qua, chú Thiều và các đồng đội góp phần làm nên chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” mãi là niềm tự hào của tất cả chúng ta”, Đại tá Vũ Xuân Thăng, người anh trai thứ hai trong gia đình anh hùng Vũ Xuân Thiều chia sẻ tại một cuộc giao lưu nhân chứng kỷ niệm 50 năm trận Điện Biên Phủ trên không.
“Nếu có ngày con không về”…

Đại tá Vũ Xuân Thăng kể, là con trai thứ 7 trong gia đình có 10 người con, “chú Thiều là người ít nói nhưng quyết đoán và mạnh mẽ hơn cả”. Trong ký ức người anh ruột, năm Thiều lên hai tuổi bị một mụn nhọt rất to ở sau lưng, dân gian vẫn gọi là “hậu bối”, vị trí rất nguy hiểm hành hạ. “Thiều sốt liên tục mấy ngày liền, tôi phải bế em ấp vào người cho khỏi đau nhưng tuyệt nhiên em không kêu khóc”.
“Thiều thích máy bay từ nhỏ. Chú ấy vẽ rất nhiều máy bay trong những cuốn vở của mình”. Khi đang là sinh viên Đại học Bách khoa, Vũ Xuân Thiều giấu gia đình đi khám tuyển phi công. Lần khám đầu tiên anh không trúng tuyển, vì không chịu nổi được “thử thách” ở phần quay tròn để kiểm tra tiền đình. Không nản, về nhà, anh kiên trì luyện quay tròn bằng cách thức khá đặc biệt. Ngày ấy ông Thắng ở đơn vị quân đội nên sau này mới được nghe em gái kể lại chuyện Thiều luyện tập thêm để khám tuyển phi công. “Sau lần khám tuyển bị trượt, cứ chiều chiều chú ấy lên tầng nhà trên cùng để luyện… quay tròn. Và ở kỳ khám tuyển tiếp đó, Thiều đã trúng tuyển phi công”.
Năm 1968, sau khi hoàn thành xuất sắc khóa học tập và huấn luyện bay ở Liên Xô, Vũ Xuân Thiều trở về nước, được điều về đơn vị chuyên bay và chiến đấu ban đêm, gồm những phi công có trình độ kỹ thuật, chiến thuật cao, có lòng dũng cảm, mưu trí.
Đại tá Vũ Xuân Thăng hồi đó cũng làm việc tại Tổng cục Chính trị nên mặc dù hai anh em không gặp nhau nhưng mọi diễn biến chiến sự và tình hình Thiều ở đơn vị, ông đều nắm được. Trực chiến, báo động chuyển cấp, xuất kích chiến đấu là những việc lặp đi lặp lại liên tục. Anh em chỉ thi thoảng nói chuyện với nhau qua đường dây nội bộ vài câu.
Mặc dù lịch chiến đấu dày đặc, nhưng các phi công tranh thủ những lúc rảnh rỗi xen kẽ giữa các lần báo động viết nhật ký, thư từ gửi về cho người thân. Vũ Xuân Thiều cũng vậy. Trong thư anh kể chuyện chiến đấu, chuyện sinh hoạt ở đại đội, dặn dò và động viên bố mẹ nếu có ngày “con không về”…
Lá thư ngày 21/12/1972, Vũ Xuân Thiều đang viết dở thì có lệnh vào cấp chiến đấu. Thư có đoạn: “Bố mẹ thân yêu! Qua hai đêm nặng nề, cái nặng nề vì phải đứng nhìn lửa đạn hết đợt này đến đợt khác rải xuống Hà Nội, con thấy uất ức lắm vì chưa làm được gì. Con nghĩ bây giờ không phải là lúc lo lắng cho ngôi nhà của mình, cũng không có quyền nghĩ đến bản thân…”. Lá thư cuối cùng dang dở ấy đến tay người nhận khi Vũ Xuân Thiều đã trở về miền mây trắng, là ánh sao hòa trong đêm ấy…
Ông Thắng kể: “Thư của chú ấy thường được chuyển về gia đình thông qua đồng đội. Nhà ở phố Đặng Dung, nên nhiều đồng đội của chú ấy mỗi khi về quê thường qua gửi xe đạp để ra ga đi tàu”.
“Bố mẹ và cả nhà yêu thương!

“Dạo này con bận quá. Hầu như ít lúc nào rỗi rãi… Có lẽ ở nhà mong tin con và ngược lại - con rất mong tin ở nhà. Hôm nay máy bay Mỹ đánh Hà Nội… Con nghĩ nhà nên tìm cách sơ tán bớt lũ trẻ. Không thể nào lường trước được mức độ ác liệt của những cuộc chiến sắp tới. Tụi nó dám dùng B-52 để đánh Hà Nội lắm chứ”.
“Ngồi nhìn cột khói Đức Giang mà đau lòng. Ngồi nghe tin tụi nó đánh các thành phố mà uất ức và nhất là nghe tin nó đánh Hà Nội”… Và rồi chàng phi công người Hà Nội lại nhắc đến B-52, với tất cả quyết tâm và sự sẵn sàng cao độ: “Với B-52, tất cả đã sẵn sàng quyết chiến, bằng bất cứ giá nào cũng đánh, bất cứ điều kiện nào cũng đánh…”.
Đại tá Vũ Xuân Thăng nhớ lại: “Vì tham gia thành phần trực sở chỉ huy nên đêm 28/12/1972, tôi cũng biết có một chiếc B-52 bị không quân ta bắn hạ và phi công của ta cũng anh dũng hy sinh. Đến sáng hôm sau thì tôi là người đầu tiên trong gia đình nhận tin em trai mình đã hy sinh trong trận đánh với B-52 đêm hôm trước”…
Trong chiếc ba lô đơn vị gửi lại gia đình, có một số kỷ vật của phi công Vũ Xuân Thiều, trong đó có chiếc radio, mấy bộ quân phục thường dùng… Một số kỷ vật đã được gia đình trao tặng cho các bảo tàng. Và lá thư thời chiến đề ngày 16/4/1972 được gia đình gìn giữ đã được trao cho Bảo tàng Phòng không - Không quân nhân kỷ niệm 45 năm chiến thắng B-52.
Nhiều năm sau, tại số nhà 21 Đặng Dung (Hà Nội) vẫn thường đón những người đồng đội của liệt sĩ, phi công Vũ Xuân Thiều đến thăm. Vào ngày giỗ của anh, có những người đến vào buổi tối để được thắp hương tưởng nhớ người phi công quả cảm vào đúng thời khắc anh Vũ Xuân Thiều anh dũng hy sinh, thời khắc quầng sáng trên bầu trời Sơn La bùng lên khi “siêu pháo đài bay” B-52 đã không thể chống cự được ý chí “vì nước quên thân” của một người lính Cụ Hồ…
Trong ký ức bạn bè đồng đội, anh hùng Vũ Xuân Thiều là một người lính Hà Nội thư sinh khác hẳn với tinh thần thép quả cảm của anh. Ngày đó, anh đã có bạn gái và đồng đội khi về Hà Nội đều được anh nhờ mua giấy pơ luya cùng phong bì thư xinh xắn để viết thư cho người yêu. Họ nhớ cả màu hoa vàng như nắng mai mà nàng thích. Về sau này, người con gái ấy vẫn đi lại như một người con gái của gia đình.
Hiện nay, tên anh hùng Vũ Xuân Thiều được đặt cho một con phố và một ngôi trường ở quận Long Biên (Hà Nội). Ở đó, những ban mai, những ngày nắng lấp lánh nụ cười trẻ nhỏ và những tương lai được viết tiếp, từ máu xương của cha anh mình…
Ngày 21/02, tức ngày 5 Tết, tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam các hoạt động trải nghiệm lễ hội đặc trưng như: Viết thư pháp, nặn tò he, in tranh Đông Hồ, tô vẽ tranh 12 con giáp, múa sạp, tung còn, ném pao và nhiều trò chơi dân gian của các dân tộc thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế tới tham quan, trải nghiệm
Chiều ngày 22.2, tức ngày mùng 6 tết, người dân từ các tỉnh thành trở về Hà Nội sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài. Trái ngược với cảnh ùn tắc mọi năm, các cửa ngõ của thủ đô khá thông thoáng.
Sáng ngày 22/2, UBND xã Hương Sơn, Thành phố Hà Nội đã long trọng tổ chức Lễ Khai hội Du lịch Chùa Hương năm 2026 với chủ đề “An toàn – Thân thiện – Chất lượng”. Trong không gian phát triển mới, Danh lam thắng cảnh Chùa Hương không chỉ mang giá trị của một vùng miền, mà còn là giá trị lịch sử và giá trị sống trong chuỗi phát triển văn hóa tín ngưỡng Phật giáo của người Việt. Trên chuyến đò về với Chùa Hương, du khách được thưởng ngoạn cảnh trí, quần thể núi non hang động, những mái chùa ẩn hiện giữa rừng sâu và còn là về với một biểu tượng tâm linh, một di sản đã thấm sâu vào tâm thức của biết bao thế hệ.
(PLM) - Vinh dự đóng quân trên quê hương Trời văn Đất Võ Bình Định, Đoàn Không quân Tây Sơn, (Trung đoàn Không quân 925) Sư đoàn 372, Quân chủng Phòng không – Không quân như được tiếp thêm mạch nguồn của vùng đất anh hùng, từ khí phách võ thuật, âm vang trống hội hào sảng tới chiều sâu văn hoá thấm đẫm nghĩa tình. Tất cả những giá trị ấy đã được chắt lọc, hoà quyện trong chương trình “Xuân canh trời – Tết thắm tình quân dân”, tạo nên bức tranh mùa xuân mang đậm bản sắc võ thuật, vừa rắn rỏi, vừa tươi mới, miêu tả nhịp sống bình yên của người dân và tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao của Bộ đội Không quân.
(PLM) - Trần Thương – một nữ doanh nhân trong lĩnh vực y tế đã lựa chọn song hành giữa kinh doanh và thiện nguyện. Từ những trăn trở khi chứng kiến bệnh nhân ung thư còn nhiều thiếu thốn, chị sáng lập Bếp ăn của Shu, trao những suất cơm 0 đồng ấm áp, tiếp thêm nghị lực cho người bệnh. Song song đó, chị còn tích cực kêu gọi cộng đồng chung tay hỗ trợ đồng bào bị ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt và những hoàn cảnh khó khăn ở nhiều địa phương. Trong từng chuyến đi, từng phần quà được trao, chị Trần Thương luôn tin rằng: khi yêu thương được nhân lên bằng sự chung tay của cộng đồng, những điều tưởng chừng nhỏ bé ấy lại có thể tạo nên những giá trị rất lớn
PLM - Văn hóa Tết truyền thống sẽ biến chuyển ra sao trong thời đại số? Đó là chủ đề được bàn luận tại trường quay Báo Pháp luật Việt Nam hôm nay với sự tham gia của Thạc sĩ, giảng viên Nghiêm Xuân Mừng và bạn trẻ Trương Lê Đình Mạnh, đại diện cho hai thế hệ. Hai khách mời sẽ cùng chia sẻ những quan điểm thú vị về việc giữ gìn bản sắc xưa giữa nhịp sống công nghệ hiện đại.
PLM - Chip bán dẫn và trí tuệ nhân tạo (AI) không còn là câu chuyện công nghệ thuần túy, mà đã trở thành thước đo năng lực quốc gia trong kỷ nguyên số. Khi chuỗi cung ứng chip toàn cầu liên tục tái cấu trúc, Việt Nam đứng trước một câu hỏi lớn: chúng ta đang theo đuổi một “giấc mơ công nghệ”, hay đã thực sự bước vào cuộc chơi bằng những năng lực cụ thể?
“Nhâm nhi Tết Bính Ngọ” là một tuyển tập đặc sắc gồm truyện ngắn, thơ, tản văn, khảo cứu lịch sử, mỹ thuật, âm nhạc được sáng tác bởi nhiều tác giả cùng các họa sĩ đã dành trọn cảm hứng cho mùa xuân và linh vật ngựa của năm Bính Ngọ. Đây là một trong nhiều phẩm đặc biệt của Nhà Xuất bản Kim Đồng nhân dịp năm mới 2026.
Quan niệm của người Việt, tết để trở về nhà sum vầy cùng người thân sau một năm tất bật công việc, song những người chiến sĩ Sư đoàn 395 vẫn không xa rời vị trí thường trực nơi tuyến đầu. Vui xuân mới không quên nhiệm vụ - trên vai họ là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của người lính. Những ngày cuối năm, tại Trung đoàn 2, Sư đoàn 395, Quân khu 3 không khí đón Tết đã tràn ngập mọi nẻo đường quyết chiến, sắc đỏ của lá cờ Tổ quốc và hoa đào rực rỡ hòa quyện cùng màu xanh áo lính, tạo nên một bức tranh mùa xuân đầy sức sống. “Tết của bộ đội” là sự hòa quyện giữa tinh thần thép, sẵn sàng chiến đấu và trái tim nồng ấm tình đồng chí, đồng đội trong ngôi nhà chung.
(PLM) - Người Dao sinh sống tại thôn Phìn Hồ, xã Thông Nguyên, tỉnh Tuyên Quang, thời gian được đo đếm bằng mỗi vụ chè trong năm. Những cây chè shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi vươn cao đón sương gió, hấp thụ linh khí của đất trời mang trong mình vẻ đẹp của dòng thời gian luân chuyển. Thế nhưng cứ mỗi khi xuân về lại luôn trổ những búp thanh tân. Vụ chè xuân phải tháng 3, tháng 4 mới cho thu hái nhưng các gia đình người Dao vẫn luôn để dành những cây chè ngon từ vụ trước để có thể sao uống trong dịp tết nguyên đán. Từ bao đời nay, những búp chè shan trong rừng cổ thụ đã theo bước chân người Dao trở về nhà để được tạo thành thứ thức uống thi vị và bổ dưỡng dưới bàn tay con người.