Từ chủ trương của Đảng đến quyết sách mang tầm chiến lược quốc gia
Từ Kết luận số 91-KL/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, cho tới những quyết sách mới nhất của Chính phủ, đặc biệt là Quyết định số 2371/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045”, có thể nhận diện rõ một mạch tư duy xuyên suốt: nâng tầm năng lực ngoại ngữ của thế hệ trẻ Việt Nam lên chuẩn mực quốc tế.
Đây không chỉ là một cải cách trong lĩnh vực giáo dục, mà là một đột phá thể chế về phát triển con người, nhằm kiến tạo “hạ tầng mềm” cho tiến trình hội nhập sâu rộng, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tri thức.
Theo định hướng của Đề án, việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai không dừng ở nâng cao khả năng sử dụng ngoại ngữ, mà hướng tới kiến tạo một môi trường giáo dục hội nhập, nơi tiếng Anh được sử dụng thường xuyên, hiệu quả trong dạy học, quản lý và các hoạt động giáo dục.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tiếng Anh đã vượt ra khỏi vai trò một công cụ giao tiếp đơn thuần để trở thành ngôn ngữ làm việc phổ biến trong khoa học, công nghệ, kinh tế và giáo dục. Hiện nay, tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức hoặc ngôn ngữ thứ hai tại 54 quốc gia và 27 vùng lãnh thổ; chiếm khoảng 95% các công bố khoa học quốc tế và hơn 60% nội dung trên các nền tảng truyền thông toàn cầu. Nhiều quốc gia không sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ mẹ đẻ vẫn lựa chọn đào tạo bằng tiếng Anh như một giải pháp chiến lược, giúp người học tiếp cận nhanh hơn với tri thức và công nghệ tiên tiến.
Tại Việt Nam, năng lực tiếng Anh của học sinh, sinh viên đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, việc dạy và học tiếng Anh vẫn chủ yếu dừng ở vai trò một môn học, nặng về thi cử, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng trong học tập, nghiên cứu, lao động và hội nhập. Khoảng cách giữa “học tiếng Anh” và “sử dụng tiếng Anh” vẫn là thách thức lớn.
Trong bối cảnh đó, việc nâng tầm tiếng Anh từ “ngoại ngữ” thành “ngôn ngữ thứ hai” trong trường học được xác định là yêu cầu tất yếu, mang ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với phát triển con người Việt Nam. Theo Đề án, mục tiêu xuyên suốt là đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi, thường xuyên và hiệu quả trong dạy học, giao tiếp, quản lý và các hoạt động giáo dục tại các cơ sở giáo dục.
Trên cơ sở đó, hình thành hệ sinh thái sử dụng tiếng Anh trong nhà trường theo ba mức độ phát triển, từ cơ bản đến nâng cao. Các mức độ được đánh giá thông qua hệ thống tiêu chí toàn diện, bao gồm: môi trường ngôn ngữ và truyền thông; chương trình giáo dục và hoạt động dạy học; học liệu; chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và cơ sở vật chất; đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên và người học; hợp tác quốc tế; nghiên cứu khoa học và công nghệ.
Thông qua việc nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh và dạy học bằng tiếng Anh, Đề án hướng tới xây dựng thế hệ công dân Việt Nam có năng lực toàn cầu, đủ khả năng tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị tri thức và thị trường lao động quốc tế.
Ở bậc giáo dục mầm non, mục tiêu là giúp trẻ được tiếp xúc, trải nghiệm và làm quen với tiếng Anh một cách tự nhiên, thông qua các hoạt động phù hợp với tâm lý lứa tuổi, từng bước hình thành năng lực giao tiếp ban đầu.
Với giáo dục phổ thông, tiếng Anh không chỉ là môn học, mà trở thành công cụ hỗ trợ phát triển tư duy, phẩm chất và năng lực học tập. Học sinh được khuyến khích sử dụng tiếng Anh trong các hoạt động giáo dục, trải nghiệm, giao lưu trong và ngoài nhà trường.
Ở giáo dục đại học, trọng tâm là xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh hiệu quả trong giảng dạy các học phần, mô-đun, tín chỉ; nâng cao năng lực tiếng Anh của đội ngũ giảng viên; thúc đẩy nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế. Giáo dục đại học được xác định là trụ cột dẫn dắt quốc gia trong hệ sinh thái tiếng Anh.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, Đề án tập trung nâng cao năng lực tiếng Anh phục vụ giao tiếp và định hướng nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động.
Giáo dục thường xuyên hướng tới đa dạng hóa hình thức học tập tiếng Anh, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân.
Cơ hội lớn cho Việt Nam bứt phá
Đề án được triển khai trong 20 năm, chia thành ba giai đoạn: xây dựng nền tảng và chuẩn hóa (2025 - 2030); mở rộng và tăng cường (2030 - 2035); hoàn thiện và nâng cao (2035 - 2045). Đến năm 2045, tiếng Anh được kỳ vọng sẽ được sử dụng một cách tự nhiên trong môi trường giáo dục, trở thành công cụ quan trọng trong học tập, quản trị và hội nhập quốc tế.
![]() |
| Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học ở Việt Nam. (Nguồn: VGP) |
Theo tính toán trong Đề án, để đáp ứng yêu cầu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai, Việt Nam cần bổ sung khoảng 12.000 giáo viên tiếng Anh cho bậc mầm non và gần 10.000 giáo viên cho bậc tiểu học. Đồng thời, từ nay đến năm 2035, cần đào tạo, bồi dưỡng ít nhất 200.000 giáo viên có năng lực dạy học bằng tiếng Anh.
Đề án nhấn mạnh việc khảo sát, đánh giá năng lực đội ngũ hiện có; xây dựng khung năng lực phù hợp; tăng cường liên kết giữa các trường đại học sư phạm, trường chuyên ngữ và các cơ sở giáo dục. Cùng với đó là nghiên cứu cơ chế thu hút sinh viên giỏi tiếng Anh, hỗ trợ giáo viên vùng khó khăn, sử dụng giáo viên và chuyên gia nước ngoài trong các cơ sở giáo dục công lập.
Một nội dung quan trọng của Đề án là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong dạy học tiếng Anh. Các nền tảng học tập số, học liệu trực tuyến mở được phát triển theo hướng cá nhân hóa, phù hợp với trình độ và nhu cầu của từng người học.
Song song với đó là đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, trang thiết bị dạy học hiện đại, ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục.
Với quy mô tác động tới khoảng 50.000 cơ sở giáo dục, gần 30 triệu người học và khoảng 1 triệu cán bộ quản lý, giáo viên, Đề án không chỉ là một chương trình giáo dục, mà còn là chiến lược phát triển nguồn nhân lực dài hạn, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam hùng cường, hội nhập sâu rộng trong kỷ nguyên mới.
Theo TS. Nguyễn Sỹ Dũng, Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nếu coi giáo dục là nền móng của phát triển, thì tiếng Anh chính là “chìa khóa vận hành” để Việt Nam kết nối với hệ sinh thái tri thức toàn cầu. Trên 80% dữ liệu khoa học, hơn 90% tài liệu công nghệ và phần lớn kho tri thức mở hiện nay được công bố bằng tiếng Anh. Ngôn ngữ này không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà là công cụ tiếp cận tri thức, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Theo TS Nguyễn Sỹ Dũng, chủ trương này mở ra ít nhất bốn cơ hội lớn. Thứ nhất, rút ngắn khoảng cách phát triển. Khi rào cản ngôn ngữ được gỡ bỏ, sinh viên Việt Nam có thể tiếp cận trực tiếp các khóa học mở từ MIT, Harvard, Oxford; đọc các công trình nghiên cứu mới nhất về AI, y sinh, năng lượng sạch hay quản trị hiện đại. Khoảng cách tri thức giữa Việt Nam và thế giới sẽ được thu hẹp đáng kể.
Thứ hai, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Một cộng đồng trẻ sử dụng thành thạo tiếng Anh sẽ tạo ra làn sóng startup công nghệ, trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm hợp tác quốc tế. Ngôn ngữ trở thành “hạ tầng mềm” giúp các ý tưởng Việt Nam bước ra thị trường toàn cầu.
Thứ ba, nâng cao năng lực thu hút FDI và nhân lực chất lượng cao. Doanh nghiệp quốc tế thường ưu tiên những quốc gia có lực lượng lao động sử dụng tiếng Anh tốt. Khi môi trường làm việc song ngữ được hình thành, Việt Nam có thể cạnh tranh trực tiếp với các nước trong khu vực trong thu hút dòng vốn công nghệ cao.
Thứ tư, nâng cấp chất lượng du lịch và dịch vụ. Khi tiếng Anh được phổ cập từ trường học, toàn bộ hệ sinh thái dịch vụ sẽ được nâng tầm, giúp Việt Nam trở thành điểm đến thân thiện, chuyên nghiệp hơn trên bản đồ du lịch quốc tế.
Dù cơ hội lớn, nhưng thách thức cũng không nhỏ. Trước hết là khoảng cách vùng miền. Các đô thị lớn có điều kiện triển khai nhanh, trong khi vùng nông thôn, miền núi thiếu giáo viên, học liệu và môi trường giao tiếp. Nếu không có chính sách hỗ trợ đủ mạnh, nguy cơ gia tăng bất bình đẳng giáo dục là hiện hữu. Cùng đó là chất lượng đội ngũ giáo viên. Phần lớn giáo viên tiếng Anh hiện nay chưa sẵn sàng cho môi trường song ngữ. Việc chuyển từ dạy ngữ pháp sang dạy giao tiếp, tư duy và ứng dụng đòi hỏi một quá trình đào tạo lại căn bản.
Và nếu vẫn coi tiếng Anh chủ yếu là môn thi, thì rất khó để biến nó thành ngôn ngữ sống trong nhà trường. Chưa kể, hệ sinh thái giáo dục chưa đồng bộ: thiếu học liệu chuẩn, thiếu công cụ luyện nghe - nói, thiếu không gian giao tiếp và cơ chế quản trị nhà trường theo chuẩn song ngữ.
Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học là một lựa chọn có tầm nhìn dài hạn. Đây là bước chuyển từ “giáo dục nội địa” sang “giáo dục hội nhập”, từ “học để biết” sang “học để cạnh tranh”, từ “quốc gia đang phát triển” sang “quốc gia sáng tạo”. Khi được triển khai bài bản, quyết liệt và công bằng, chính sách này sẽ góp phần hình thành một thế hệ công dân toàn cầu mang bản sắc Việt Nam và khát vọng vươn tầm của một dân tộc đang bước vào kỷ nguyên mới.
(PLM) - Sáng 06/02 Bộ Tư pháp đã tổ chức buổi họp báo thường kỳ và gặp mặt phóng viên các cơ quan báo chí nhân dịp Tết nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Tham dự buổi họp báo có Phó bí thư thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Tư pháp - Nguyễn Thanh Tịnh và lãnh đạo các Cục vụ trong Bộ Tư pháp. Cùng đại diện các cơ quan báo chí trung ương đã đồng hành với Bộ Tư pháp trong công tác thông tin, tuyên truyền phổ biến pháp luật.
PLM - Những ngày giáp Tết Bính Ngọ 2026, làng quất Tứ Liên (phường Hồng Hà, Hà Nội) bước vào thời điểm nhộn nhịp nhất trong năm. Sắc vàng của quất chín hòa cùng màu xanh lộc non phủ kín khắp làng, tạo không khí xuân rộn ràng, ấm áp.
(PLM) - Sáng 5/2, trong không khí phấn khởi chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và đón Xuân Bính Ngọ 2026, Bộ Tư pháp đã tổ chức buổi gặp mặt thân mật các thế hệ cán bộ hưu trí của Bộ. Đây là hoạt động giàu ý nghĩa nhân văn, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, sự tri ân sâu sắc đối với những đóng góp bền bỉ, lặng thầm mà to lớn của các thế hệ đi trước đối với sự hình thành, phát triển và trưởng thành của Bộ, ngành Tư pháp.
Trong cao điểm trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, thực hiện kế hoạch của Cục Cảnh sát giao thông về tăng cường bảo đảm trật tự, an toàn giao thông với trọng tâm gồm: Xử lý vi phạm nồng độ cồn, ma tuý; tốc độ, tải trọng và các hành vi là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông, lực lượng CSGT toàn quốc đã đồng loạt ra quân, triển khai nhiều biện pháp đồng bộ.
Nhân dịp đón Xuân Bính Ngọ 2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh cùng các Thứ trưởng và đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp đã tới thăm và chúc Tết gia đình các đồng chí nguyên là Lãnh đạo Bộ Tư pháp.
Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026, với chủ đề “Kết nối thịnh vượng - Đón Xuân huy hoàng”, được tổ chức tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam. Là “điểm đến” giao thương, “không gian” xúc tiến thương mại, đầu tư chuyên nghiệp, quy mô lớn hàng đầu của quốc gia và là “nền tảng” hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành trung tâm hội chợ, triển lãm của khu vực và quốc tế.
Ngày 3/2, Đảng bộ Bộ Tư pháp long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2026) và chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
(PLM) - Giữa những ngày cuối năm, khi phố phường Hà Nội bắt đầu ngập tràn sắc xuân, tại các Cơ sở cai nghiện ma túy trên địa bàn Thủ đô, một mùa Tết rất đặc biệt đã diễn ra – Chương trình “Tết Nhà”. Không pháo hoa rực rỡ, không náo nhiệt ngoài phố, nhưng ở nơi ấy, mùa xuân hiện hữu bằng sự ấm áp của tình người, của niềm tin và những cơ hội được trao cho những con người đang trên hành trình làm lại cuộc đời.